
Nguồn: Jonathan A. Czin, “The False Promise of U.S.-China Stability”, Foreign Affairs, 15/06/2026
Biên dịch: Viên Đăng Huy
Một sự im lặng đầy bất an đã trở thành đặc trưng trong quan hệ Mỹ-Trung dưới nhiệm kỳ hai của Tổng thống Mỹ Donald Trump. Mặc dù cả hai chính phủ đều gọi đây là “sự ổn định chiến lược mang tính xây dựng”, mối bang giao Mỹ-Trung lại quá mong manh và nông cạn, đồng thời thiếu vắng cả tham vọng lẫn tầm nhìn tích cực từ cả hai phía, khiến việc mô tả cục diện hiện tại như một thế bế tắc được định hình bởi “sự đảm bảo gây hỗn loạn lẫn nhau” xem chừng sẽ xác đáng hơn. Trong tương lai, câu hỏi quan trọng đối với cả hai bên là ai đang tận dụng tốt hơn khoảng lặng chuyển tiếp này.
Về phần mình, Bắc Kinh coi thế bế tắc này là một thắng lợi — một minh chứng cho thấy Trung Quốc đã vươn lên vị thế ngang hàng với Washington — và là sự khẳng định tính đúng đắn của các chính sách mà họ đã triển khai sau nhiệm kỳ đầu của ông Trump, vốn được thiết kế để giúp nước này vừa có thể chủ động tấn công, vừa có thể phòng thủ trước Mỹ. Kể từ khi ông Trump gặp nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình tại Hàn Quốc vào tháng 11 năm ngoái, chiến lược của Bắc Kinh luôn là dùng mức giá thấp nhất có thể để đổi lấy thời gian, không gian dễ thở cùng sự giảm bớt áp lực từ phía Mỹ nhằm củng cố sức mạnh cho vòng đấu tiếp theo. Chẳng hạn, khi họ gặp lại nhau tại Bắc Kinh vào tháng 5, nghi thức đón tiếp long trọng và sự tôn trọng mà ông Tập dàn dựng cho ông Trump, kết hợp với một vài thỏa thuận thương mại khiêm tốn, chỉ là cái giá quá rẻ để đổi lấy khoảng không gian dễ thở đó. Thật nghịch lý, vị thế siêu cường thứ hai thế giới cũng đang giúp ích cho Trung Quốc trong việc tích lũy các lợi thế mà không phải gánh vác những trách nhiệm — cùng các khoản chi phí — vốn đã bào mòn tài khí của chính phủ Mỹ lẫn làm nguội lạnh tham vọng của người dân Mỹ đối với các sáng kiến đối ngoại lớn lao và táo bạo.
Tuy nhiên, chính quyền Trump vẫn quả quyết rằng họ ở vị thế tốt nhất để hưởng lợi từ thế bế tắc này và giành chiến thắng trong cuộc đua. Dù ông Trump có khác biệt thế nào so với các vị tiền nhiệm, ông lại rất giống các tổng thống nhiệm kỳ hai truyền thống khi tập trung vào chính sách đối ngoại thay vì các vấn đề quốc nội. Ở tuổi 80, ông Trump dường như bị ám ảnh bởi vị thế của mình trong lịch sử thế giới. Thế nhưng bản thân ông lại như đang mắc kẹt trong lịch sử, khi ông đang đưa chính sách Mỹ-Trung quay trở lại thời kỳ can dự của những năm 1990 và đầu những năm 2000. Ông đặt thương mại ở thế tiên phong và đẩy an ninh về phía sau. Ông có vẻ lo ngại về việc Đài Loan làm đảo lộn động lực thúc đẩy quan hệ hai bờ eo biển hơn là Bắc Kinh làm điều đó. Và dĩ nhiên, chính quyền trong năm nay đã dành gần như toàn bộ nguồn lực cho một cuộc chiến khác ở Trung Đông, lặp lại những sự xao nhãng của một phần tư thế kỷ qua nhưng lại thiếu đi lý do chính đáng từ một thảm họa như sự kiện 11/9 hay sự trỗi dậy mạnh mẽ của Nhà nước Hồi giáo tự xưng (ISIS) mười hai năm sau đó. Nếu mỗi ngày trôi qua trong thế bế tắc này đều mang tính “chiến lược”, thì nước Mỹ đang phung phí quyền lực cứng và làm tiêu tan sức mạnh quân sự của mình — thay vì tăng cường nó — đồng thời đẩy ngân sách liên bang vào một quỹ đạo thậm chí còn kém bền vững hơn.
Một sự xao nhãng quen thuộc
Điều đáng báo động nhất trong chính sách Trung Quốc của ông Trump không phải là nó chưa từng có tiền lệ, mà là việc nó trông quá giống với những sai lầm của các vị tiền nhiệm. Việc người Mỹ bị cuốn vào Trung Đông là một sự xao nhãng khỏi cuộc cạnh tranh quan trọng hơn với Trung Quốc — và mọi tổng thống Mỹ đều đã thừa nhận điều đó kể từ khi chính quyền Barack Obama triển khai chiến lược “Xoay trục sang châu Á” vốn phần lớn không được hiện thực hóa vào năm 2011. Chính quyền Trump đầu tiên sau đó đã đặt Trung Quốc vào trung tâm của Chiến lược An ninh Quốc gia, và ngay cả chính quyền Trump thứ hai cũng đã công nhận trên danh nghĩa những nguy cơ của một cuộc can thiệp khác vào Trung Đông khi ban hành Chiến lược An ninh Quốc gia vào tháng 12/2025. Thế nhưng mỗi chủ nhân Nhà Trắng bằng cách nào đó vẫn thấy mình bị hút ngược trở lại khu vực này. Chẳng hạn, ông Obama đã kéo dài cuộc chiến ở Afghanistan và phải can thiệp vào Iraq để ngăn chặn sự trỗi dậy của ISIS. Tổng thống Joe Biden đã đổ dồn các nguồn lực của Mỹ sang Trung Đông sau cuộc tấn công ngày 7/10 của Hamas vào Israel. Và chỉ 12 tuần sau khi ban hành Chiến lược An ninh Quốc gia, ông Trump đã khơi mào cuộc chiến Vùng Vịnh lần thứ ba.
Một số đồng minh của chính quyền tuyên bố rằng bằng cách tập trung hỏa lực — cả theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng — vào Venezuela và Iran, ông Trump đang hạ bệ các đồng minh của Bắc Kinh và bao vây nước này. Nhưng Trung Quốc quan trọng đối với Iran và Venezuela hơn nhiều so với việc bất kỳ nước nào trong hai quốc gia đó đã hoặc đang quan trọng với Trung Quốc. Cùng lắm thì Washington cũng chỉ ăn được những quân tốt ở vùng rìa của bàn cờ quốc tế — điều này làm Bắc Kinh khó chịu nhiều hơn là thực sự làm suy yếu vị thế của họ.
Thật vậy, vào thời điểm diễn ra hội nghị thượng đỉnh tháng 5 giữa ông Trump và ông Tập, rõ ràng là Trung Đông không còn là tâm điểm của cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc. Mặc dù cuộc chiến ở Iran đã chứng minh rằng khu vực này đóng một vai trò kinh tế quá lớn do vị trí trọng yếu trong các chuỗi cung ứng toàn cầu, những quốc gia ở vị thế tốt nhất để vượt qua cuộc khủng hoảng năng lượng bắt nguồn từ xung đột này, thật trớ trêu, lại là ba cường quốc: Trung Quốc, Nga và Mỹ. Đây là một bài học đắt giá cho giới tinh hoa đối ngoại Mỹ, bởi đây là sự chuyển hướng so với thời Chiến tranh Lạnh, khi Henry Kissinger nổi tiếng với việc theo đuổi “ngoại giao con thoi” ở Trung Đông để ngăn chặn một cuộc khủng hoảng dầu mỏ hoặc tệ hơn là một xung đột kéo cả Liên Xô lẫn Mỹ vào cuộc. Đây cũng là sự chuyển hướng so với ngay cả một thập kỷ trước, khi Mỹ và Nga phải phân chia phạm vi hoạt động tại Syria để một mặt chống lại ISIS và mặt khác bảo vệ chế độ Assad. Ngày nay, Trung Đông đơn giản là không còn là nơi mà các cường quốc có nguy cơ đối đầu trực tiếp với nhau.
Bắc Kinh nhận thức được điều này và do đó đang đưa ra lựa chọn có tính toán là né tránh một vai trò lớn hơn tại khu vực. Thay vào đó, họ hài lòng đứng nhìn một tổng thống Mỹ nữa tiêu tốn xương máu, tiền của, tham vọng và đạn dược của nước Mỹ vào khu vực, và một chính quyền Mỹ nữa đặt chính sách Trung Quốc xuống hàng thứ yếu sau các ưu tiên đối ngoại khác, nhằm tìm kiếm sự ổn định với Bắc Kinh để có thể tập trung vào quản trị khủng hoảng.
Trở lại tương lai
Nhìn chung, ông Trump dường như có ý định đưa chính sách Trung Quốc của Washington quay trở lại tương lai. Một trong những thành quả đáng chú ý nhất của hội nghị thượng đỉnh Bắc Kinh là thỏa thuận thành lập một Ủy ban Thương mại và một Ủy ban Đầu tư — cả hai đều gợi lên sự thụt lùi về kỷ nguyên can dự và đối thoại kinh tế đã qua mà chính quyền Trump đầu tiên từng chấm dứt. Bản tóm tắt của Nhà Trắng về hội nghị thượng đỉnh hầu như chỉ tập trung vào các thỏa thuận thương mại và kinh doanh, trong khi phớt lờ một cách lộ liễu bất kỳ vấn đề an ninh nào đang làm đau đầu mối quan hệ này. Lần nhắc đến duy nhất đối với các vấn đề này là sự chấp thuận đối với lời kêu gọi của Bắc Kinh về “sự ổn định chiến lược mang tính xây dựng” — một dấu hiệu cho thấy chính quyền ưu tiên thương mại hơn cạnh tranh và, một cách ngầm định, ưu tiên sự ổn định với Bắc Kinh hơn lợi ích của các đồng minh và đối tác của Mỹ trong khu vực vốn đang phải hứng chịu sức mạnh ngày càng tăng của Trung Quốc, đáng chú ý nhất là Nhật Bản và Đài Loan. Ngay cả những hình ảnh từ hội nghị thượng đỉnh, đặc biệt là sự góp mặt của một nhóm các CEO Mỹ, trông như được cắt và dán từ một kỷ nguyên hữu nghị và thương mại trước đây dưới thời các Tổng thống Mỹ Bill Clinton hay George W. Bush. Thay vì tìm kiếm hòa bình nhờ sức mạnh, chính quyền đang đạt lấy sự ổn định thông qua thỏa hiệp.
Cách tiếp cận này không chỉ phản ánh sự bận tâm cục bộ của ông Trump với việc chốt thỏa thuận. Cách tiếp cận mang tính trọng thương của tổng thống đối với chính sách đối ngoại là một hình ảnh phản chiếu méo mó của chủ nghĩa tân tự do vốn là bệ phóng cho sự thăng tiến của Trung Quốc vào Tổ chức Thương mại Thế giới. Hai thế giới quan này chia sẻ trọng tâm là thương mại và kinh doanh như là cốt lõi của các mối quan hệ quốc tế. Nhưng trong phiên bản của ông Trump, đó là một dạng quyền lực cứng tước bỏ đi những vỏ bọc ý thức hệ về luật lệ, chuẩn mực và sự thịnh vượng chung vốn từng tô điểm cho thế hệ tiền nhiệm của nó. Tương tự, chính quyền Trump dường như thoải mái với chủ nghĩa cải tiến công nghệ vốn là một đặc trưng thiết yếu của tinh thần thời đại những năm 1990. Giống như trường hợp của những năm đó, các nhà công nghệ ngày nay — cho đến nay — đã được thả lỏng để phát triển năng lực của họ ở mức tối đa, bất chấp những lời tiên tri về ngày tận thế đến từ nhiều người trong ngành. Đồng thời, ông Trump đã dần chuyển dịch chính sách của Mỹ từ kiểm soát xuất khẩu sang thúc đẩy xuất khẩu đối với các công nghệ tiên tiến quan trọng, đặc biệt là chất bán dẫn.
Sự trớ trêu của chính sách can dự này không dừng lại ở đó. Về vấn đề Đài Loan, ông Tập dường như đã thuyết phục được ông Trump tập trung vào việc răn đe Đài Loan thay vì Trung Quốc — một sự lặp lại của năm 2003, khi ông Bush cảnh cáo nhà lãnh đạo Đài Loan không được thay đổi trạng thái nguyên trạng ở Eo biển Đài Loan. Vấn đề là cách tiếp cận này không phù hợp với động lực hiện tại, trong đó Trung Quốc đang hành động ngày càng hung hăng và Đài Loan cần sự hỗ trợ để tự vệ. Những người ủng hộ ông Trump sẽ chỉ ra thương vụ bán vũ khí mang tính lịch sử trị giá 10 tỷ USD của chính quyền cho Đài Loan vào tháng 12/2025 — vốn bao gồm các mặt hàng thực sự tăng cường khả năng tự vệ của Đài Loan — như một dấu hiệu cho thấy họ vẫn cam kết bảo vệ hòn đảo này. Nhưng bất kỳ tác động răn đe nào mà thương vụ bán vũ khí đó có thể mang lại đã bị dập tắt bởi những bình luận của ông Trump với Fox News rằng Đài Loan là một “quân bài đàm phán” với Bắc Kinh. Ông cũng công khai suy ngẫm về việc quân đội Mỹ sẽ phải chiến đấu cách xa và khó khăn thế nào vì hòn đảo này. Những bình luận của ông Trump cho thấy ông sẵn sàng thay thế sự răn đe bằng việc chốt thỏa thuận, và Bắc Kinh đã hồi sinh chiến lược cũ của mình là trì hoãn các cuộc gặp với Washington để đòi nhượng bộ — lần này bằng cách hoãn chuyến thăm Trung Quốc của quan chức số ba của Lầu Năm Góc cho đến khi Mỹ quyết định cách tiến hành thương vụ bán vũ khí tiếp theo cho Đài Loan.
Trong khi đó, Chiến lược Quốc phòng của chính quyền Trump đã gạt bỏ mọi cuộc thảo luận về việc coi Trung Quốc là một “mối đe dọa trực diện” — sự chuyển hướng so với cả Chiến lược Quốc phòng của chính quyền đầu tiên lẫn chính quyền Biden. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth đã phản bác trong bài phát biểu hồi tháng 5 tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore rằng các nhà quan sát nên nhìn vào những gì chính quyền làm thay vì những gì chính quyền nói. Nhưng các hành động của chính quyền Trump lại mang tính thỏa hiệp với Bắc Kinh, cho thấy sự im lặng của Nhà Trắng thực chất là minh chứng cho cách tiếp cận thực dụng của họ.
Dù sự im lặng đó có mang tính phản ánh hay không, Bộ Quốc phòng là một bộ máy quan liêu khổng lồ đòi hỏi những chỉ thị rõ ràng và nhất quán từ giới lãnh đạo chính trị cấp cao để duy trì trọng tâm vào các ưu tiên của vị tổng tư lệnh. Ngay cả trong những năm sau khi chính quyền Trump đầu tiên xác định rõ ràng Trung Quốc là ưu tiên quốc phòng hàng đầu, quân đội Mỹ vẫn gặp khó khăn trong việc chuyển hướng khỏi các cuộc chiến ở Trung Đông. Đến năm 2024, theo ủy ban lưỡng đảng được giao nhiệm vụ đánh giá chiến lược quốc phòng của Mỹ, “về nhiều mặt, Trung Quốc đang vượt mặt Mỹ và đã vô hiệu hóa phần lớn lợi thế quân sự của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương”. Ủy ban này tiếp tục lưu ý rằng “nếu không có những thay đổi đáng kể, cán cân quyền lực sẽ tiếp tục chuyển dịch theo hướng có lợi cho Trung Quốc”. Nhìn vào các khoản chi phí trong cuộc chiến Iran, cây gậy mà nước Mỹ đang vung lên đang ngày càng giảm sút về trọng lượng.
Kỷ luật và thăng tiến
Trong khi đó, Trung Quốc hiện đang gặt hái được nhiều lợi thế rõ rệt từ vị thế siêu cường thứ hai của mình. Quan trọng nhất, vai trò “siêu cường số hai” áp đặt kỷ luật lên chính sách an ninh quốc gia của Trung Quốc. Trong khi Mỹ thấy mình bị đè nặng bởi các cam kết toàn cầu và liên tục bị xao nhãng bởi các cuộc khủng hoảng ở những góc xa xôi của địa cầu, Trung Quốc có được đặc quyền khi chỉ tập trung chủ yếu vào cách cạnh tranh với Mỹ. Ngay cả nhiều thách thức của Bắc Kinh dọc theo vành đai của mình — yêu sách đối với Đài Loan, sự đối đầu với Tokyo, việc không thể hiện thực hóa hoàn toàn các yêu sách lãnh thổ rộng lớn ở Biển Đông — đều gắn liền với sự đối đầu của họ với Washington trong một mặt trận địa lý duy nhất: Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Việc có một trọng tâm như vậy cung cấp cho Bắc Kinh một nguyên tắc tổ chức rõ ràng cho chính sách an ninh quốc gia và cho phép họ đảo ngược quy trình để xác định những gì cần làm nhằm gặm nhấm dần các lợi thế của đối thủ.
Động lực này nổi bật và đáng lo ngại nhất trong lĩnh vực quân sự. Quân đội Trung Quốc không cần chuẩn bị cho nhiều tình huống khẩn cấp trên khắp địa cầu, và không cần chi trả hay lên kế hoạch cho việc tiến hành các hoạt động phức tạp tại nhiều mặt trận cùng một lúc. Thay vào đó, sứ mệnh tối cao duy nhất của họ trong nhiều năm qua là chuẩn bị chiếm Đài Loan, và các nhà hoạch định của họ luôn thiên về giả định rằng họ sẽ phải đối đầu với quân đội mạnh nhất thế giới trong một kịch bản như vậy. Họ đã đạt được những bước tiến đáng kể trên mặt trận đó; lĩnh vực duy nhất mà quân đội Mỹ còn giữ được lợi thế trước Trung Quốc là dưới lòng biển. Như John Culver và tôi đã lập luận trên những trang tạp chí này, ngay cả các cuộc thanh trừng gần đây của ông Tập đối với cả một thế hệ lãnh đạo quân sự cũng nên được coi là dấu hiệu cho thấy ông Tập cực kỳ nghiêm túc trong việc chuẩn bị cho quân đội trước khả năng xảy ra một xung đột liên quan đến Mỹ.
Vị thế siêu cường thứ hai của Trung Quốc cũng cho phép họ hưởng lợi từ sự khoan dung của những kỳ vọng thấp. Trong khi các nhà lãnh đạo trên khắp Thái Bình Dương, châu Âu và Trung Đông vẫn kỳ vọng hoặc muốn Washington hỗ trợ an ninh cho họ, họ không có những kỳ vọng như vậy đối với Bắc Kinh. Về mọi vấn đề điểm nóng lớn của thế kỷ — từ Triều Tiên ngay trước cửa nhà, đến cuộc xung đột Nga–Ukraine, cho đến cuộc chiến hiện tại ở Trung Đông — Trung Quốc hiếm khi tự mình gánh vác một vai trò lãnh đạo thực chất và hầu như không phải trả giá vật chất nào cho sự tách biệt của mình. Sự miễn cưỡng này ngày càng trở nên lố bịch khi quyền lực cứng của Trung Quốc đã tăng trưởng đến mức khổng lồ, nhưng nó phản ánh tính toán của Trung Quốc rằng với tư cách là siêu cường thứ hai, họ có thể và phải bảo tồn tầm ảnh hưởng của mình một cách cẩn trọng.
Bắc Kinh dĩ nhiên vẫn cần thế giới bên ngoài cho sự phát triển và thịnh vượng của chính mình, nhưng sau hậu quả của cuộc chiến thương mại đầu tiên với ông Trump, ông Tập đã củng cố Trung Quốc bằng ý tưởng “tuần hoàn kép” — một cụm từ vụng về về cơ bản có nghĩa là Trung Quốc sẽ tìm cách làm cho thế giới phụ thuộc nhiều hơn vào chính mình trong khi giảm bớt sự phụ thuộc của chính mình vào thế giới bên ngoài. Trung Quốc cũng theo đuổi một phiên bản biến tướng của nghệ thuật quản lý kinh tế của Mỹ, nhưng Bắc Kinh không biết liệu nó có hoạt động hay không cho đến năm qua khi, sau hậu quả của cái gọi là thuế quan Ngày Giải phóng của ông Trump, họ đã vũ khí hóa hiệu quả sự phụ thuộc của Mỹ vào đất hiếm. Thật vậy, bộ công cụ mới của Trung Quốc đã hoạt động tốt hơn những gì Bắc Kinh có thể kỳ vọng. Từ góc nhìn của Bắc Kinh, nó đã buộc Mỹ phải rơi vào thế bế tắc hiện tại và đảm bảo hai nước sẽ tiếp tục bị mắc kẹt trong một trận hòa cho đến cuối năm nay và có khả năng cho đến cuối nhiệm kỳ của ông Trump.
Sự tự tin của Trung Quốc rằng họ đang đi đúng hướng giờ đây là có thể cảm nhận được. Thật vậy, ông Tập đã trân trọng đưa sự tự tin đó vào kế hoạch năm năm gần đây — vốn sẽ định hướng sự phát triển của Trung Quốc cho đến cuối thập kỷ — kêu gọi các quan chức của mình phải có lòng dũng cảm khi đối mặt với nghịch cảnh và nắm bắt các cơ hội để định hình môi trường quốc tế theo hướng có lợi cho Trung Quốc. Kế hoạch năm năm thậm chí đã hạ thấp việc tăng cường sự tự lực của Trung Quốc từ ưu tiên hàng đầu xuống ưu tiên thứ hai — một dấu hiệu tinh tế cho thấy sự tự tin ngày càng tăng của nước này.
Nghịch lý quyền lực của Trung Quốc
Bất chấp những thành công này, nhiều nhà quan sát đã chỉ ra một cách chính xác các vấn đề kinh tế của Trung Quốc là một rào cản đối với các tham vọng quốc tế của nước này. Tuy nhiên, nghịch lý thay, một số căn bệnh đang bủa vây nền kinh tế nội địa của Trung Quốc lại đang phóng đại tầm ảnh hưởng địa chính trị toàn cầu của họ. Ví dụ, cái gọi là tình trạng “nội cuốn” (neijuan) của Trung Quốc — động lực trong đó sự cạnh tranh nội địa khốc liệt làm giảm lợi nhuận của các công ty ngay cả khi họ tăng trưởng — đang nuôi dưỡng tình trạng giảm phát và tước đi của các công ty này nguồn lực họ cần để phát triển sản phẩm. Nhưng sự cạnh tranh và giảm phát cũng đang kéo giá hàng hóa Trung Quốc trên thị trường quốc tế xuống, cho phép các doanh nghiệp Trung Quốc đạt được những bước tiến đáng kể trong việc chiếm lĩnh thị phần, đặc biệt là trong các lĩnh vực chiến lược như ngành công nghiệp ô tô.
Hơn nữa, một số vấn đề kinh tế này chỉ là cái giá cho sự kiên cường mà ông Tập đã mua được. Sự giảm tốc hiện tại của Trung Quốc phản ánh sự tích lũy của các quyết định có tính toán nhằm né tránh việc chi tiêu kích thích vốn sẽ thúc đẩy tiêu dùng nội địa, để chuyển sang đầu tư vào các công nghệ tiên tiến. Canh bạc ở đây là cuối cùng những khoản đầu tư đó sẽ phát triển các động cơ tăng trưởng mới. Chính sách công nghiệp tập trung vào phía cung của Trung Quốc vốn không hiệu quả và nó chuyển hướng các nguồn lực rời xa những người tiêu dùng vốn dĩ tài sản đã bị bào mòn bởi những hệ lụy đang diễn ra từ sự sụp đổ của lĩnh vực bất động sản Trung Quốc. Nhưng ông Tập dường như chấp nhận để người dân Trung Quốc trung lưu phải chịu đựng, và nhìn chung chính sách này đã hiệu quả trong việc củng cố năng lực sản xuất của Trung Quốc.
Kết quả là tình trạng mất cân bằng thương mại của Trung Quốc với phần còn lại của địa cầu tiếp tục tăng trưởng nhảy vọt — lần đầu tiên vượt mốc 1.000 tỷ USD vào năm ngoái. Điều này đã khiến nhiều nhà phân tích dự báo về sự phản kháng từ các chính phủ nước ngoài. Nhưng trong khi các quốc gia như Mexico và Thổ Nhĩ Kỳ đã triển khai các biện pháp đáp trả mang tính bảo hộ, Bắc Kinh vẫn chưa phải đối mặt với một sự phản kháng phối hợp nào. Châu Âu dường như ngày càng có ý định tập hợp các biện pháp đáp trả thực chất đối với cái gọi là Cú sốc Trung Quốc 2.0, nhưng Bắc Kinh, sau khi giành chiến thắng trong cuộc chiến thương mại với Washington, đã tuyên bố rằng họ sẽ sử dụng đòn bẩy của chính mình để đập tan mọi hành động của châu Âu.
Cuối cùng, ngay cả khi việc ra quyết định kinh tế của Trung Quốc bị chi phối bởi công nghệ tiên tiến và sản xuất, họ không đặt tất cả trứng vào một giỏ trí tuệ nhân tạo. Thay vào đó, họ áp dụng một cách tiếp cận danh mục đầu tư bằng cách thực hiện các khoản đầu tư đáng kể vào các công nghệ triển vọng khác, chẳng hạn như chế tạo robot, công nghệ sinh học và toàn bộ các hệ thống năng lượng xanh. Trong khi lời hứa về AI phần lớn vẫn chỉ là một lời hứa, nhiều ứng dụng mà Bắc Kinh đang thúc đẩy vừa tạo ra những lợi ích xã hội rõ rệt ngày nay, vừa đang được khai thác bởi các công ty đang nhanh chóng trở thành các thế lực quốc tế, như BYD. Nói cách khác, Trung Quốc đã và đang gặt hái được nhiều lợi ích từ các công nghệ mới nổi.
Suy giảm quyền lực
Các nhà bình luận như A. Wess Mitchell, cựu trợ lý ngoại trưởng của ông Trump về các vấn đề châu Âu và Á-Âu, đã lập luận rằng chính quyền đang củng cố quyền lực của Mỹ để chuẩn bị cho cuộc cạnh tranh lâu dài với Trung Quốc. Tuy nhiên, có rất ít bằng chứng về nỗ lực đó trên mặt trận nội địa, ngoài những nỗ lực đáng hoan nghênh của Nhà Trắng nhằm giảm bớt sự phụ thuộc của Mỹ vào Trung Quốc về các nguyên tố đất hiếm. Ngay cả trước khi khơi mào một cuộc chiến ở Iran, quân đội Mỹ đã thiếu thốn đạn dược cho một tình huống khẩn cấp liên quan đến Trung Quốc; giờ đây, các chuyên gia đánh giá rằng sẽ mất nhiều năm để Mỹ quay trở lại mức trước cuộc xung đột Iran.
Tiền bạc cho nỗ lực này cũng sẽ eo hẹp: Đạo luật Lớn Đẹp Đẽ vào mùa hè năm ngoái — vốn cắt giảm thuế và góp phần làm thâm hụt ngân sách tăng vọt — đã tước đi của các chính quyền tương lai không gian tài khóa mà họ sẽ cần để thực hiện các khoản đầu tư vào cuộc cạnh tranh với Trung Quốc. Hiện tại, nợ công của Mỹ đã vượt quá toàn bộ GDP của quốc gia này. Các quan chức chính quyền đã lập luận rằng các chính sách thương mại của ông Trump đã dẫn đến sự sụt giảm rõ rệt trong hàng hóa nhập khẩu của Mỹ từ Trung Quốc, nhưng không rõ điều đó tăng cường quyền lực của Washington hay vị thế chiến lược của họ đối với Bắc Kinh như thế nào — đặc biệt là khi thặng dư thương mại của Trung Quốc tiếp tục phình to và họ vẫn giữ thế thượng phong đối với đất hiếm cùng các chuỗi cung ứng quan trọng khác như dược phẩm.
Thay vì củng cố quyền lực của Mỹ, chính quyền đang phải học hỏi về những giới hạn của nó. Có những điểm tương đồng có thể rút ra được từ cuộc chiến thương mại của chính quyền Trump với Trung Quốc trong năm đầu tiên của nhiệm kỳ này và cuộc chiến Iran đang tiêu tốn năm thứ hai của họ. Trong cả hai trường hợp, chính quyền đã đánh giá thấp một cách trầm trọng khả năng chống chịu và năng lực trả đũa của đối thủ, sau đó leo thang nhanh chóng và mạnh mẽ trước khi nhận ra rằng phía đối thủ kiểm soát các điểm nghẽn then chốt — cuối cùng dẫn đến việc chính quyền phải tìm kiếm một giải pháp ngoại giao kết cuộc. Nước Mỹ khó lòng có thể chi trả cho kiểu giáo dục trải nghiệm này.
Trong khi đó, Trung Quốc vẫn tiếp tục tiến bước với một kế hoạch năm năm có thể cho phép họ vượt trội hơn cả Mỹ lẫn các đồng minh của họ trong một loạt lĩnh vực công nghệ cao và sản xuất tiên tiến ngày càng mở rộng. Ngay cả khi kế hoạch năm năm không đạt mục tiêu và các vấn đề kinh tế của Trung Quốc tiếp tục diễn ra không suy giảm, họ vẫn sẽ là một đối thủ đáng gờm và lâu dài đối với Mỹ — một đối thủ mà một chính quyền tương lai, giờ đây với một bộ bài yếu hơn trong tay, sẽ buộc phải đối đầu trực diện.
JONATHAN A. CZIN là Giáo sư về Nghiên cứu Chính sách Đối ngoại tại Trung tâm Trung Quốc thuộc Viện Brookings, đồng thời là người đồng dẫn chương trình podcast The Beijing Brief. Ông từng đảm nhiệm vị trí Giám đốc phụ trách các vấn đề Trung Quốc tại Hội đồng An ninh Quốc gia từ năm 2021 đến năm 2023, và trước đó từng là thành viên của Cơ quan Phân tích Cao cấp thuộc Cục Tình báo Trung ương (CIA).
